Đặt banner 324 x 100

Gan nhiễm mỡ cấp tính


 Gan nhiễm mỡ cấp tính ở thai kỳ là bệnh nghiêm trọng, hiếm gặp và có khả năng gây chết người, thường gặp ở giữa tuần 32 và 38 của thai kỳ. Tỉ lệ mắc phải vào khoảng 1 trong 10.000 thai phụ. Thường gặp ở lần mang thai đầu tiên với song thai con trai. Đây là một biến chứng nghiêm trọng trong giai đoạn mang thai thường xảy ra trong 3 tháng cuối của thai kỳ do rối loạn chức năng TY thể trong quá trình oxy hóa acid béo dẫn đến sự tích tụ mỡ trong các tế bào gan
Cho đến nay người ta chưa nắm rõ được cơ chế bệnh sinh cũng như nguyên nhân gây ra bệnh. Theo một số nghiên cứu cho thấy, bệnh là do sự rối loạn chức năng ty thể trong quá trình oxy hóa acid béo bởi thiếu men chuỗi dài 3-hydroxyacyl-CoA dehydrogenase (LCHAD), gây tích lũy mỡ trong gan.
 
Triệu chứng bệnh.
 
Bệnh thường biểu hiện trong ba tháng cuối của thai kỳ, nhưng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, trong nửa cuối của thai kỳ, hoặc giai đoạn hậu sản. Các triệu chứng thông thường ở người mẹ là: nôn mửa, buồn nôn, chán ăn và đau bụng. Vàng da và sốt có thể xảy ra ở 70% số bệnh nhân.
 Ở những bệnh nhân nặng, có thể kèm theo tiền sản giật, trong đó bao gồm tăng huyết áp và phù. Điều này có thể dẫn đến các biến chứng như suy thận cấp, bệnh não gan, và viêm tụy. Xét  nghiệm cận lâm sàng cho thấy, trong GNMCTTK men gan tăng cao: AST và ALT từ 300 – 500 UI trở lên có khi tăng > 1.000 UI; bilirubin không thay đổi; alkaline phosphatase thường tăng cao trong thai kỳ do sản xuất từ nhau thai. Các xét nghiệm khác như huyết đồ: bạch cầu tăng, chức năng đông máu giảm, fibrinogen giảm, albumin giảm, xét nghiệm bilan mỡ trong máu: triglycerides tăng, cholesterol tăng gấp đôi. Siêu âm bụng có thể cho thấy lắng đọng mỡ trong gan, với mạch máu nhỏ li ti bị nhiễm mỡ. Ngoài ra có thể có biến chứng đông máu nội mạc lan tỏa.
 
Chuẩn đoán
 
Được xác định dựa trên các dấu hiệu lâm sàng: như rối loạn tiêu hóa, vàng da và sốt. Các xét nghiệm có giá trị: bạch cầu tăng cao, men gan tăng rất cao, chỉ số bilan mỡ máu tăng. Có thể có biến chứng DIC… Sinh thiết gan có thể cung cấp một chẩn đoán xác định, nhưng không phải luôn luôn thực hiện, do sự gia tăng chảy máu trong gan nhiễm mỡ cấp tính của thai kỳ. Thường thử nghiệm sẽ được thực hiện để chẩn đoán phân biệt trong một số các bệnh lý: viêm gan virút, tiền sản giật, hội chứng HELLP (Hemolytic anemia Elevated Liver enzymes), vàng da tắc mật của thai kỳ và viêm gan tự miễn.

Biến chứng gan nhiễm mỡ cấp tính ở thai phụ

 
  • Ở thai phụ có thể dẫn đến một trong các biến chứng như hôn mê gan, suy thận, hạ đường huyết, nhiễm trùng, xuất huyết tiêu hóa, rối loạn đông máu, thai chết lưu,…Tỷ lệ tử vong của mẹ là 18% trong số những trường hợp mắc bệnh. 
  • Ở trẻ sơ sinh tỷ lệ tử vong cao 47% do xảy ra nhiều biến chứng như suy gan, bệnh cơ tim, bệnh não, hạ đường huyết, hypoketotic,…
Hiện bệnh gan nhiễm mỡ cấp ở thai phụ chưa có thuốc đặc trị, vì vậy các bác sĩ khuyến cáo: khi mang thai sản phụ sản phụ cần thường xuyên thăm khám thai, siêu âm định kỳ theo quy định. Thăm khám thường xuyên, đúng lịch sẽ giúp các bác sĩ phát hiện các triệu chứng của bệnh từ sớm và có biện pháp điều trị thích hợp và kịp thời, tránh được những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra. Nếu để muộn, bệnh trở nặng sẽ nguy hiểm cho cả bà mẹ và thai nhi.  
 

 Điều trị

 

Tốt nhất điều trị tại một trung tâm chuyên về gan. Điều trị ban đầu hỗ trợ với dịch truyền tĩnh mạch, đường truyền tĩnh mạch và các sản phẩm máu, huyết tương tươi đông lạnh khi có DIC. Thai nhi cần được theo dõi với monitoring sản khoa. Sau khi người mẹ được ổn định, cần chấm dứt thai kỳ, tùy tình trạng người mẹ và sức khỏe thai nhi có thể gây khởi phát chuyển dạ sinh ngả âm đạo hay phải mổ lấy thai. Các biến chứng của gan nhiễm mỡ cấp tính của thai kỳ có thể yêu cầu điều trị sau khi sinh, đặc biệt là nếu viêm tụy xảy ra, có thể ghép gan khi cần thiết, để điều trị cho những trường hợp nặng, biến chứng như: mẹ có DIC nặng, bị vỡ gan, hoặc những người có bệnh não nghiêm trọng.