Đặt banner 324 x 100

Ngắm nhìn 2 nhạc khí cổ trong thành đại nội Huế


Năm bên trong một góc tối, hai bộ đàn chuông (biên chung) và đàn đá (biên khánh) nằm im lìm bên chiếc sập màu đỏ rực - nơi các vị vua ngồi ngự phê. Đa số khách tham quan đến tour du lịch Bảo tàng Cổ vật Cung đình thời Nguyễn chỉ xem xét tới các món báu vật như áo mão cân đai, hia hài, đồ sứ ký kiểu, cành vàng lá ngọc mà ít ai để ý tới hai bộ nhạc khí cổ quý hiếm bậc nhất tại Châu Á. Cùng chúng tôi chiêm ngưỡng 2 báu vật quý bên trong thành nội Huế

 

 

Theo nghiên cứu, lịch sử của bộ đàn đá mà loài người biết sử dụng đã có cách đây hơn 3.000 năm. Năm 1949, phu lục lộ người Pháp đã phát hiện tại Đắk Lắk, Tây Nguyên một bộ đàn đá gồm 11 thanh đá xám, kích thước từ to đến nhỏ. Phát hiện này được Georges Condominas, một nhà khảo cổ bậc thầy người Pháp làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ đưa về Paris. Rồi được nghiên cứu bởi giáo sư âm nhạc André Schaeffner. Về sau, Georges Condominas công bố thành quả nghiên cứu trên tạp chí nhạc học số 97-98 tháng 7 năm 1951, khẳng định “nó rất rất dị bởi không giống bất kỳ một nhạc cụ bằng đá nào mà khoa học đã biết”. Lần thứ hai vào năm 1956 người Mỹ cũng tìm thấy một bộ đàn đá khác tại Tây Nguyên. Hiện nó được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Cổ vật NewYork. Vào năm 2005, đàn đá đã được UNESCO xếp vào danh sách nhạc cụ trong “Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên”.

 

Còn nếu như bạn tìm lại các c tài liệu lịch sử nghiên cứu về Nhã nhạc cung đình Huế, người ta thấy có sự hiện diện của biên chung và biên khánh trong hệ thống Nhã nhạc từ xa xưa. Đây là 2 loại nhạc cụ chính thống vô cùng lạ mắt và có ý nghĩa quan trọng về mặt tín ngưỡng. Người xưa vốn quan niệm âm thanh của đàn đá (biên khánh) là một phương tiện linh thiêng giao hưởng giữa nhân loại với trời đất, với thần linh để nối dài quá khứ với hiện tại. Cixng trong hệ thống Đại nhạc và Tiểu nhạc thuộc Nhã nhạc Cung đình Huế, bộ biên khánh gồm có 12 chiếc khánh làm bằng đá đẽo gọt. Còn bộ biên chung gồm có 12 chiếc chuông đồng. Cả hai bộ được treo trên một giá đỡ bằng gỗ quý bên ngoài sơn son thếp vàng. Giá đỡ này được phân thành hai hàng trên và dưới, mỗi hàng có 6 ô, để treo mỗi chiếc chuông đồng và khánh đá. Hai chiếc giá đỡ này có thể di chuyển đến nơi trình diễn rất dễ dàng, do bên trên cấu phân thành hình cái đòn gánh chạm khắc hình đầu rồng, hai người mạnh mẽ gánh nó đi bằng vai.

 

 

Theo như các nhà nghiên cứu âm nhạc vào thập niên 1940-1960, lúc đầu hầu hết là người Pháp, bộ biên khánh (đàn đá) đa số có từ 5 - 15 thanh đá. Theo họ, đàn đá là bộ nhạc cụ gõ cổ sơ bậc nhất của loài người. Được làm từ những thành đá lớn nhỏ, dài ngắn, dày mỏng dính khác biệt. Thanh đá dày, lớn và dài có âm trầm còn những thanh đá nhỏ, ngắn và mỏng mảnh lại có âm vực trong trẻo. Vừa có âm vực trầm, ngân vang như tiếng dội vào vách đá. Các nhà nghiên cứu cho biết loại đá sử dụng làm đàn đá đều đạt trên 3.000 năm tuổi. Và làm cách nào để người xưa có thể tìm ra loài đá này vẫn là một bí hiểm chưa ai giải đáp được. Qua các cuộc thám sát khảo cổ học, đến nay mới phát hiện thấy đàn đá ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Việt Nam và một số vùng Châu Phi. Tại nước ta, người xưa thường sử dụng loại đá núi ở miền Nam Trung bộ và Đông Nam bộ để làm đàn đá. Nói về lịch sử bộ biên chung (nhạc chuông), trong hệ thống nhạc cụ thuộc Nhã nhạc cung đình Huế, hiện giờ chỉ còn giữ được 8 chiếc chuông đồng tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 

Bộ biên chung này cũng là nguyên liệu nhạc cụ thuộc nhóm huyền nhạc (nhạc treo) trong hệ thống đại nhạc (nhạc lễ). Nó chỉ được đem ra sử dụng trong những buổi tế lễ trọng đại cấp đất nước như: lễ Đại triều ở điện Thái Hòa, lễ Tế đàn Nam Giao, lễ Tế đàn Xã Tắc. Theo như tìm hiểu hiên trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế có 8 chiếc chuông quý đều làm bằng chất liệu đồng nguyên chất. Quả chuông được đúc rỗng, độ dày mỏng manh giữa các chuông không giống nhau. Trên thân chuông đúc 5 đường gờ nổi song song tượng trưng cho “ngũ hành”. Tại mỗi điểm đúc nổi hiện lên 9 nút nhỏ ở mỗi đường gờ để làm điểm tấn công chuông. Các nút nhỏ tinh vi này chính là điểm ký hiệu về “cường độ” và “ trường độ” âm thanh của quả chuông lúc trình tấu. Trên mỗi quả chuông cũng có móc để treo lên hết sức tinh vi, đẹp mắt. Vào năm 2002 - 2003, Trong khi thực hiện bộ hồ sơ Nhã nhạc Cung đình Huế để trình lên UNESCO công nhận là Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại; cả hai nghệ nhân Nhã nhạc sau cùng thời Nguyễn là cụ Trần Kích và Lữ Hữu Thi đều cho biết họ không biết được các công thức, kỹ năng để trình tấu hai loại nhạc cụ độc đáo này.

 

Đến năm 2004, với sự giúp sức về chuyên môn của các chuyên gia Hàn Quốc, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đã phục chế một bộ biên chung gồm 12 chiếc để trưng bày tại Trai Cung. Phục chế chỉ thành công về mặt “hình thức” của nhạc cụ. Chất lượng âm thanh thì không thể. Theo các chuyên gia Hàn Quốc khi đến Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế để nghiên cứu các thang âm trực tiếp trên 8 chiếc chuông cổ, vì tác động của thời gian nên âm thanh không còn chuẩn như nguyên thủy. Đáng tiếc là đến nay, dù đã dày công nghiên cứu chưa tìm thấy tài liệu hướng dẫn. Cũng không còn nghệ nhân nào biết cách trình tấu hai bộ biên chung và biên khánh.

Thông tin liên hệ


: kv16
:
:
:
: