Đặt banner 324 x 100

Cách phân loại Server riêng, server giá tốt (máy chủ)


1. Khái niệm về server (máy chủ):

Máy chủ (server): Một máy tính hay một trang bị trên mạng, nó quản lý tài nguyên của mạng. Ví dụ như, một máy dịch vụ tập tin là 1 máy tính hoặc là 1 vật dụng chuyên dụng để lưu trữ các tập tin. Bất kỳ người sử dụng nào trên mạng cũng mang thể lưu trữ các tập tin trên máy chủ.

2. Phân loại server (máy chủ) hiện nay.

Nếu căn cứ theo bí quyết tạo ra máy chủ người ta phân thành ba loại:

- Máy chủ riêng (Dedicated Server): là máy chủ chạy trên phần cứng và các thứ tương trợ riêng biệt gồm: HDD, CPU, RAM, Card mạng, . Việc nâp cấp hoặc đổi thay cấu hinh của máy chủ riêng đòi hỏi cần thay đổi phần cứng của máy chủ

- Máy chủ ảo (Virtual Private Server - VPS): là dạng máy chủ được tạo thành bằng bí quyết tiêu dùng khoa học ảo hóa để chia tách từ 1 máy chủ riêng thành nhiều máy chủ ảo khác nhau. Các máy chủ ảo mang tính năng na ná như 1 máy chủ riêng, nhưng chạy san sẻ tài nguyên từ máy chủ vật lý gốc. Việc nâng cấp hoặc thay đổi cấu hình của máy chủ ảo cực kỳ đơn giản, mang thể đổi thay trực tiếp trên phần mềm quản lý hệ thống. Tuy nhiên việc đổi thay tài nguyên của máy chủ ảo phụ thuộc và bị giới hạn bởi tài nguyên của máy chủ vật lý.

- Máy chủ đám mây (Cloud Server): là máy chủ được kết hợp rộng rãi từ máy chủ vật lý khác nhau cộng mang hệ thống lưu trữ SAN mang tốc độ truy nã xuất nổi bật giúp máy chủ hoạt động nhanh, ổn định, tránh mức rẻ tình trạng downtime. Máy chủ Cloud được xây dựng trên nền khoa học điện toán đám mây nên dễ dàng nâng cấp từng phần đồ vật trong quá trình dùng mà ko khiến cho ngắt quãng quá trình sử dụng máy chủ.

>>>> Xem thêm: bán máy chủ hpe dl380 gen10

 

Nếu căn cứ theo công dụng, chức năng của máy chủ người ta phân ra những loại máy chủ: Web server, Database server, FTP server, SMTP server (email sever), DNS sever, DHCP server.

- Máy chủ web (Web Server) là máy chủ mà trên ấy cài đặt phần mềm dùng cho web, đôi lúc người ta cũng gọi chính phần mềm đó là web server. Tất cả các web server đều hiểu và chạy được các file *.htm và *.html. Tuy nhiên mỗi web server lại phục vụ một số kiểu file chuyên biệt chẳng hạn như llS của Microsoft dành cho *.asp, *.aspx…; Apache dành cho *.php…; Sun Java system web server của SUN dành cho *.jsp…

- Máy chủ Database (Database Server): máy chủ mà trên đấy với cài đặt phần mềm Hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Chúng ta sở hữu hệ quản trị CSDL chả hạn như: SQL server, MySQL, Oracle…

-  Máy chủ FTP (FTP server): FTP (viết tắt của File Transfer Protocol dịch ra là "Giao thức truyền tập tin") thường được dùng để luận bàn tập tin qua màng lưới truyền thông sử dụng giao thức TCP/IP (chẳng hạn như Internet - mạng ngoại bộ - hoặc intranet - mạng nội bộ). Hoạt động của FTP nên có hai máy tính, 1 máy chủ và 1 máy khách). Máy chủ FTP dùng chạy phần mềm phân phối dịch vụ FTP, gọi là trình chủ, lắng nghe đề nghị về dịch vụ của các máy tính khác trên mạng lưới. Máy khách chạy phần mềm FTP dành cho người tiêu dùng dịch vụ, gọi là trình khách, thì bắt đầu 1 liên kết với máy chủ.

- Máy chủ SMTP (SMTP server): SMTP (Simple Mail Transfer Protocol - giao thức truyền tải thư tín đơn giản) là một chuẩn truyền chuyên chở thư điện tử qua mạng Internet. SMTP server là máy chủ giúp bạn gửi mail tới những cửa hàng email khác trên internet.

- Máy chủ DNS (DNS Server) là máy chủ phân giải tên miền. Mỗi máy tính, thứ mạng tham gia vào mạng Internet đều kết nối với nhau bằng cửa hàng IP (Internet Protocol). Để thuận tiện cho việc tiêu dùng và dễ nhớ ta tiêu dùng tên (domain name) để xác định đồ vật đó. Hệ thống tên miền DNS (Domain Name System) được dùng để ánh xạ tên miền thành liên hệ IP.

- Máy chủ DHCP (DHCP server): DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol - giao thức cấu hình động máy chủ) là 1 giao thức cấu hình tự động địa chỉ IP. Máy tính được cấu hình một phương pháp tự động do đó sẽ giảm việc can thiệp vào hệ thống mạng. DHCP server là máy chủ sở hữu cài đặt dịch vụ DHCP, nó có chức năng quản lý sự cấp phát địa chỉ IP động và những dữ liệu cấu hình TCP/IP. Ngoài ra còn sở hữu nhiệm vụ trả lời lúc DHCP Client mang đề nghị về giao kèo thuê bao.

>>>> Xem thêm: bán máy chủ HPe DL360 gen10

 

Nếu phân dòng theo DNS server mang ba cái DNS server sau:

- Primary server: Xác thực thông tin chính thức cho các domain mà nó được phép quản lý

Thông tin về tên miền do nó được phân cấp quản lý thì được lưu trữ tại đây và sau đó mang thể được chuyển sang cho những secondary server

Các tên miền do primary server quản lý thì được tạo và sửa đổi tai primary server và được cập nhật đến các secondary server

Primary server buộc phải đặt gần sở hữu những client để với thể phục vụ tróc nã vấn tên miền một bí quyết dễ dàng và nhanh hơn.

-  Secondary server: DNS được khuyến nghị phải sử dụng chí ít là hai DNS server để lưu cho mỗi một zone. Primary DNS server quản lý những zone và secondary server tiêu dùng để lưu trữ đề phòng cho primary server. Secondary DNS server được khuyến nghị sử dụng nhưng không nhất định phải có. Secondary server được phép quản lý domain như : dữ liệu về tên miền (domain) ,nhưng secondary server không tạo ra những bản ghi về tên miền (domain) mà nó lấy về từ primary server ưng chuẩn quá trình Replication.

Khi lượng tầm nã vấn zone tăng cao tại primary server thì nó sẽ chuyển bớt vận chuyển sang cho secondary server .Hoặc khi primary server gặp sự cố ko hoạt động được thì secondary server sẽ hoạt động thay thế cho đến khi primary server hoạt động trở lại.

Secondary server cần được đặt ở gần với primary server và client để sở hữu thể dùng cho cho việc truy vấn vấn tên miền dễ dàng hơn. Nhưng không nên cài đặt secondary server trên cộng 1 mạng con (subnet) hoặc cùng 1 kết nối có primary server. Để khi primary server với kết nối bị hỏng thì cũng không có tác động tới secondary server.

Primary server thường xuyên đổi thay hoặc thêm vào những zone mới. Nên DNS server tiêu dùng cơ chế cho phép secondary lấy thông báo từ primary server và lưu trữ nó. Có hai giải pháp lấy thông báo về những zone mới là lấy đa số (full) hoặc chỉ lấy phần đổi thay (incremental)

- Caching-only server: Tất cả các DNS server đều mang khả năng lưu trữ dữ liệu trên bộ nhớ cache của máy để giải đáp truy nã vấn một bí quyết nhanh chóng. Nhưng hệ thống DNS còn mang 1 dòng Caching-only server.Loại này chỉ dùng cho việc tróc nã vấn, lưu giữ câu trả lời dựa trên thông tin mang trên cache của máy và cho kết quả tróc nã vấn. Chúng ko hề quản lý một domain nào và thông tin được dừng bởi những gì được lưu trên cache của server.

Lúc ban sơ lúc server bắt đầu chạy thì nó sẽ ko lưu thông tin nào trong cache. Thông tin sẽ được cập nhật theo thời kì lúc những client server tầm nã vấn dịch vụ DNS. Nếu bạn sử dụng kết nối mạng WAN tốc độ rẻ thì việc dùng caching-only DNS server là giải pháp hữu hiệu cho phép giảm lưu lượng thông báo tầm nã vấn trên đường truyền.

Caching-only có khả năng giải đáp những câu truy tìm vấn tới client. Nhưng không cất zone nào và cũng không có quyền quản lý bất kì domain nào. Nó sử dụng bộ cache của mình để lưu những truy nã vấn của DNS của client. Thông tin sẽ được lưu trong cache để giải đáp các truy vấn tới client.

>>> Xem thêm: bán hpe dl560 Gen10